Ngày 02/02/2026, Bộ Tài chính đã công bố dự thảo Thông tư về chính sách thuế đối với giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa (gọi tắt là dự thảo Thông tư). Dự thảo tập trung làm rõ nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với các chủ thể tham gia thị trường.
Theo đó, dự thảo Thông tư quy định về chính sách thuế đối với giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa theo Nghị quyết 05/2025/NQ-CP ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Chính phủ về việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam.
Thuế thu nhập doanh nghiệp đối với tổ chức trong nước
Theo dự thảo, nhà đầu tư là tổ chức được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam, có thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng tài sản mã hóa, thuộc đối tượng kê khai và nộp thuế TNDN với thuế suất 20%, trừ các trường hợp được ưu đãi theo khoản 2 và khoản 3 Điều 10 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15.
Thu nhập chịu thuế từ hoạt động chuyển nhượng tài sản mã hóa được xác định bằng giá bán tài sản mã hóa trừ giá mua và các chi phí hợp lý, hợp lệ liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng trong kỳ tính thuế.
Đối với doanh nghiệp là tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP ngày 09/9/2025 của Chính phủ về triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam, nếu có thu nhập từ hoạt động cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp cũng thực hiện kê khai và nộp thuế TNDN với thuế suất 20%, trừ các trường hợp được hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật.
Thuế đối với tổ chức nước ngoài
Nhà đầu tư là tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài, có hoạt động chuyển nhượng tài sản mã hóa thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa được cấp phép tại Việt Nam, thuộc đối tượng nộp thuế TNDN theo tỷ lệ 0,1% trên doanh thu chuyển nhượng của từng lần giao dịch.
Thuế thu nhập cá nhân đối với nhà đầu tư cá nhân
Về thuế thu nhập cá nhân, dự thảo quy định nhà đầu tư là cá nhân, không phân biệt cá nhân cư trú hay không cư trú, khi thực hiện chuyển nhượng tài sản mã hóa thông qua nền tảng giao dịch của tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa, phải nộp thuế TNCN theo tỷ lệ 0,1% trên doanh thu chuyển nhượng từng lần.
Thời điểm xác định doanh thu và thu nhập chịu thuế đối với hoạt động chuyển nhượng tài sản mã hóa được áp dụng tương tự quy định về thời điểm xác định thu nhập đối với hoạt động chuyển nhượng chứng khoán theo pháp luật thuế hiện hành.
Tài sản mã hóa được chào bán cho đối tượng nào?
Theo khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP, tài sản mã hóa chỉ được phép chào bán, phát hành cho nhà đầu tư nước ngoài. Việc giao dịch các tài sản mã hóa này cũng chỉ được thực hiện giữa các nhà đầu tư nước ngoài thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa đã được Bộ Tài chính cấp phép.
Tối thiểu 15 ngày trước khi thực hiện chào bán hoặc phát hành, tổ chức phát hành phải công bố Bản cáo bạch chào bán, phát hành tài sản mã hóa theo mẫu quy định, cùng các tài liệu liên quan (nếu có) trên trang thông tin điện tử của tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa và của chính tổ chức phát hành.
Quyền và trách nhiệm của tổ chức phát hành tài sản mã hóa
Điều 14 Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP quy định rõ quyền và trách nhiệm của tổ chức phát hành tài sản mã hóa. Theo đó, tổ chức phát hành có trách nhiệm bảo đảm tính chính xác, đầy đủ, kịp thời và không gây hiểu nhầm đối với toàn bộ thông tin cung cấp cho cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa và nhà đầu tư.
Bên cạnh đó, tổ chức phát hành phải phối hợp với tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa để bảo đảm tuân thủ pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của quốc gia nơi nhà đầu tư nước ngoài là công dân, đồng thời tuân thủ quy định về sở hữu nước ngoài đối với tài sản làm cơ sở phát hành (nếu có).
Tổ chức phát hành chịu trách nhiệm thực hiện đúng các nội dung đã công bố trong Bản cáo bạch, giải quyết các tranh chấp phát sinh liên quan đến hoạt động phát hành tài sản mã hóa theo quy định của pháp luật, và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế theo quy định hiện hành